Đặc điểm và tác dụng của Đại hoàng

Từ xa xưa dân gian đã dùng rễ của cây đại hoàng để để điều trị táo bón, khó tiêu, mắt đỏ, xung huyết…

Đặc điểm thực vật của cây thuốc Đại hoàng
Đặc điểm thực vật của cây thuốc Đại hoàng

Dược liệu là thân rễ (Rhizoma Rhei) đã cạo vỏ và phơi hay sấy khô của cây Ðại hoàng – Rheum palmatum L. hoặc Rheum officinale Baillon hoặc giống lai của hai loài trên, họ Rau răm – Polygonaceae.

Tên tiếng việt: đại hoàng, xuyên đại hoàng, cẩm văn…

Đặc điểm thực vật của Đại hoàng

Cây thuộc thảo, sống dai nhờ thân rễ to. Lá mọc thành cụm từ thân rễ, có kích thước lớn, có cuống dài, có bẹ chìa, phiến lá hình tim rộng 30 – 40cm, phân thành 5 đến 7 thùy chính, các thùy này cũng có thể phân lần thứ hai hoặc đôi khi lần thứ ba. Lá của Rheum palmatum thì có những thùy sâu hơn R.officinale. Gân lá nổi mặt dưới, thường màu đỏ nhạt. Từ năm thứ 3 -4 thì xuất hiện 1 thân mọc lên cao 1 -2m mang một số lá nhỏ. Phần ngọn thân là chùm hoa hình chùy mang nhiều hoa. Bao hoa gồm 6 bộ phận màu trắng, xanh nhạt, hoặc đỏ nhạt, 9 nhị.

Cây được khoảng 3 tuổi thì thu hoạch thường thì vào tháng 9 hoặc tháng 10, cắt bỏ thân chồi, rễ con, lấy rễ củ cạo sạch, phơi khô.

Thành phần hoá học của Đại hoàng

Dược sĩ Nam Anh – giảng viên Liên thông Cao đẳng Dược tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur, thành phần hoạt chất trong Đại hoàng chủ yếu là các dẫn chất anthranoid, tồn tại ở các dạng khác nhau:

– Anthraquinon tự do gồm có: chrysophanol (1,8-dihydroxy-3-methylanthracene-9,10-dione), emodin, physcion, aloe emodin (1,8-dihydroxy-3-(hydroxymethyl)anthracene-9,10-dione) và rhein (4,5-dihydroxy-9,10-dioxo-9,10-dihydroanthracene-2-carboxylic acid).

– Các glucosid của anthraquinon. Chiếm khoảng 60 – 70  % của toàn phần hoạt chất và gồm các glucosid của các aglycon nói ở trên.

 – Các glucosid của các anthranol và anthron tương ứng với những aglycon nói trên. Những dẫn chất này dễ bị oxy hóa thành các dẫn chất anthraquinon.

– Các dẫn chất dimer dianthron tồn tại trong cây dưới dạng mono và diglucosid. Ví dụ: sennidin A, B, C .

– Các heterodianthron carboxylic như rheidin A, B, C, các heterodianthron không có nhóm carboxyl như palmidin A (= heterodianthron của emodin và aloe emodin), palmidin B (= heterodianthron của aloe emodin và chrysophanol) và palmidin C (= heterodianthron của rheum emodin và chrysophanol).

– Trong đại hoàng còn có deshydrodianthron như dirhein.

– Thành phần thứ hai đáng chú ý là tanin (khoảng 5% – 12%) chủ yếu thuộc nhóm pyrocatechic và một phần thuộc nhóm pyrogallic. Các chất này dễ tan trong cồn. Ngoài ra trong đại hoàng còn có nhiều chất vô cơ (nhiều calci oxalat). Tinh bột, pectin; một chất nhựa ít được nghiên cứu cũng có tác dụng tẩy xổ.

Ðại hoàng có tác dụng làm tăng nhu động ruột
Ðại hoàng có tác dụng làm tăng nhu động ruột

Tác dụng và công dụng của Đại hoàng

Các dẫn chất anthranoid trong Ðại hoàng có tác dụng làm tăng nhu động ruột; với liều thấp có tác dụng nhuận tràng, liều cao làm thuốc tẩy nhẹ dùng cho người đầy bụng, đại tiện bí. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Các chế phẩm có Đại hoàng tác dụng cả lên cơ trơn của bàng quang và tử cung do đó phụ nữ có thai hoặc người bị viêm bàng quang không nên dùng. Do có tác dụng phụ là gây sung huyết nên không dùng cho người bị trĩ.

Vì đại hoàng có chứa nhiều calci oxalat nên không dùng lâu cho người bị sỏi thận oxalic.

Theo y học cổ truyền đại hoàng có tác dụng tả hỏa, thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ, lợi thủy hóa thấp, dùng trong các  chứng tích trệ chứng thực, đau đầu do hỏa thực, mắt đỏ, xuất huyết do nhiệt, hoàng đản…

Theo nghiên cứu dược lý hiện đại thì đại hoàng có tác dụng nhuận tràng, tăng nhu động ruột, lợi mật (tăng co bóp túi mật, giãn cơ vòng oddi), cầm máu, kháng khuẩn, lợi tiểu, bổ gan, giảm mỡ máu, thành phần emodin và rhein có tác dụng ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư (thử nghiệm trên chuột)…

Ứng dụng lâm sàng: hỗ trợ điều trị trị thận suy mãn tính, xuất huyết tiêu hóa trên, viêm tụy cấp, viêm ruột, mỡ máu, viêm gan vàng da, viêm amidan có mủ, trường vị thực nhiệt táo bón, hỏa nhiệt độc gây chảy máu cam, sưng nướu, mắt đỏ, bế kinh huyết ứ…

Nguồn: yduocbinhduong.info