Đặc điểm và tác dụng dược lí của hồ tiêu

Hạt tiêu đen thường được dùng làm gia vị trong gia đình, ngoài ra hạt tiêu đen còn có tác dụng làm vị thuốc chữa bệnh.

Đặc điểm và tác dụng dược lí của hồ tiêu
Đặc điểm và tác dụng dược lí của hồ tiêu

Tên khoa học:  Piper nigrum L. họ Hồ tiêu – Piperaceae.

Tên Việt Nam: hạt tiêu, hay cổ nguyệt, hồ tiêu, tiêu, mạy lòi.

Đặc điểm thực vật của cây hồ tiêu

Hồ tiêu là loại cây leo, thân dài, nhẵn bám vào các cây tựa bằng rễ, lá mọc cách, giống lá trầu không song dài và thuôn hơn.

Có 2 loại nhánh, một loại mang quả và một loại nhánh dinh dưỡng, cả 2 loại nhánh đều xuất phát từ kẽ lá, cụm hoa hình đuôi sóc mọc đối với lá, khi chín rụng cả chùm.

Quả hình cầu nhỏ, có 20-30 quả trên 1 chùm, lúc đầu màu xanh lục sau có màu đỏ khi chín màu vàng.

Phân bố, trồng hái, chế biến cây hồ tiêu

Hồ tiêu trồng ở vùng nhiệt đới, nơi cung cấp nhiều hồ tiêu là ấn Độ, Indonesia, Malayxia, Campuchia, Braxin.

Việt Nam trồng nhiều ở Phú Quốc, Minh Hải, Kiên Giang, Quảng Trị, Thừa Thiên. Hàng năm Việt Nam xuất khẩu 4.000-5.000 tấn.

Có 2 loại hồ tiêu đen và hồ tiêu trắng.

Muốn có hồ tiêu đen, thu hái lúc thấy có 1 vài quả đỏ hay vàng trên chùm quả có nghĩa là đa số còn xanh. Quả non chưa có sọ khi phơi khô sẽ giòn dễ vỡ vụn còn quả già khi phơi khô sẽ nhăn nheo lại có màu đen do đó gọi là hồ tiêu đen.

Muốn có hồ tiêu trắng phải hái lúc quả thật chín, loại vỏ ngoài bằng cách chà xát loại hết vỏ đen rồi phơi khô. Loại này có màu trắng ngà, ít nhăn nheo hơn, ít thơm (vì lớp vỏ ngoài chứa nhiều tinh dầu đã bị loại), song cay hơn.

Bộ phận dùng làm thuốc của cây hồ tiêu

Quả xanh còn vỏ ngoài: Hồ tiêu đen (Fructus Piperis).

Quả chín đã loại vỏ ngoài: Hồ tiêu sọ (hồ tiêu trắng) (Fructus Piperis). Hồ tiêu đen là quả mọng khô hình cầu, đường kính 4-5mm, màu đen nhạt hay xám thẫm, nhăn nheo, có sẹo cuống, trên có điểm hơi nổi vết tích của vòi đã rụng. Hồ tiêu sọ trông ít nhăn nheo hơn màu trắng ngà, cắt dọc thấy lớp vỏ trong và hạt.

Thành phần hoá học của cây hồ tiêu

Tinh dầu: 1,2-3,5% trong hồ tiêu đen, 1,2-2,5% trong hồ tiêu trắng màu vàng nhạt hay lục nhạt, có mùi thơm. Thành phần chính của tinh dầu là a và b pinen, sabinen.

Quả hồ tiêu được dùng làm thuốc của cây hồ tiêu      
Quả hồ tiêu được dùng làm thuốc của cây hồ tiêu     

Alcaloid 2-5% trong đó chủ yếu là: Piperin (chiếm 90-95%) có vị cay. Piperin khi thuỷ phân cho piperidin và acid piperic (C12H10O4). Chavicin là đồng phân (dạng cis-cis) của piperin cũng có vị cay khi thuỷ phân cũng cho piperidin và acid chavicic (C12H10O4).

Ngoài ra còn 1 lượng nhỏ các chất piperettin, piperylin, piperolein A, B ít cay hơn. Trong hồ tiêu còn có cubelin không có vị cay, chất béo và tinh bột.

Tác dụng và công dụng của cây hồ tiêu

Hồ tiêu với liều nhỏ có tác dụng tăng dịch vị, dịch tuỵ, kích thích tiêu hoá, làm ăn ngon; liều cao kích thích niêm mạc dạ dày, gây xung huyết và viêm cục bộ gây sốt, viêm đường tiết niệu, đái ra máu.

Ngoài công dụng làm gia vị, hồ tiêu làm thuốc kích thích tiêu hoá, giảm đau (chữa đau răng), chữa đau bụng, ỉa lỏng, cảm lạnh.

Ngày dùng 1-3g dưới dạng bột hay thuốc viên thường phối hợp với thuốc khác.

Hồ tiêu còn có tác dụng sát khuẩn, diệt ký sinh trùng do đó còn dùng hồ tiêu bảo quản quần áo len, dạ.

Dùng để kích thích tiêu hoá: Hồ tiêu 5g, thạch tín 0,5g (nửa gam) đem tán nhỏ, dùng hồ viên thành 100 viên. Ngày uống 2-4 viên này làm thuốc bổ, kích thích sự tiêu hoá, ăn ngon cơm. Thuốc có độc nên dùng phải cẩn thận.

Chữa đi lỏng, ăn vào nôn ra: Hồ tiêu, bán hạ chế, hai vị bằng nhau, tán nhỏ. Dùng nước gừng viên bằng hạt đậu, ngày uống 15-20 viên.

Nguồn: yduocbinhduong.info