Lịch sử phát triển và thành tựu của ngành hóa sinh học

Ở thế kỷ XIX, khi mà hoá học phát triển như vũ bão thì ở ranh giới giữa sinh học và hoá học đã xuất hiện một lĩnh vực khoa học mới, đánh dấu bước đột phá của ngành sinh học.

Ngành hóa sinh học có lịch sử phát triển nổi bật
Ngành hóa sinh học có lịch sử phát triển nổi bật 

Lĩnh vực này xuất hiện nhằm nghiên cứu thành phần hoá học của cơ thể sống và những quá trình chuyển hoá hoá học của các chất và của năng lượng trong quá trình hoạt động sống xảy ra trong cơ thể của chúng. Lĩnh vực khoa học này được gọi là hoá học sinh vật hoặc vắn tắt hơn là hoá sinh học.

Lịch sử phát triển của ngành hóa sinh

Có thể nói rằng, hoá sinh học là một phần lĩnh vực của khoa học cuộc sống. Nhiệm vụ của chúng nhằm nghiên cứu các hiện tượng sống bằng các phương pháp hoá học.

Đánh giá cá nhân của nhiều giảng viên Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur, đây là một khoa học trẻ tuổi của thế kỷ XX đang trên đà phát triển mạnh mẽ và đang xâm nhập vào nhiều lĩnh vực mũi nhọn của sinh vật học, y học và nông học… Hoá sinh học mới trở thành một ngành khoa học độc lập vào nửa sau thế kỷ thứ XIX mặc dù ngay từ thời thượng cổ con người đã làm quen với nhiều quá trình hoá sinh học trong cuộc sống hàng ngày của họ như nấu rượu, nướng bánh mì, thuộc da, làm dấm, tương, nước mắm…

Tuy vậy chỉ mới gần đây, tất cả mọi quá trình sinh học này mới được nghiên cứu một cách khoa học và được giải thích một cách đầy đủ. Có thể nói, sự xuất hiện ngành hoá sinh học là kết quả tất yếu của sự phát triển và phối hợp giữa hoá học và sinh vật học.

Ngành hóa sinh học đạt được nhiều thành tựu kể từ khi ra đời
Ngành hóa sinh học đạt được nhiều thành tựu kể từ khi ra đời

Một số thành tựu nổi bật của hóa sinh trong thời gian gần đây

Trong quá trình phát triển của mình, nhiều ngành nhỏ của hoá sinh đã ra đời. Về hoá sinh một số chức phận hệ thống quan trọng có hoá sinh miễn dịch, hoá sinh di truyền, đặc biệt một ngành mới gần đây đã xuất hiện đó là công nghệ hoá sinh. Các lĩnh vực nhỏ của hoá sinh đã đóng góp một cách tích cực vào thành tích chung của hoá sinh. Nhiều giải thưởng Nobel đã ghi công các kết quả nghiên cứu quan trọng, mở ra nhiều cánh cửa mới cho sự phát triển của hoá sinh như hoá sinh của hệ thống miễn dịch của Snell, Bena Cerraf và Dausset năm 1980.

Cùng năm ấy Paul Berg cũng được giải thưởng Nobel bởi công trình nghiên cứu gắn các mẫu DNA. Năm 1981-1982, thành tựu tổng hợp gen interferon gồm 514 đôi base bởi Leicester đã được thực hiện. Từ đó đến nay hàng loạt công trình khác về nghiên cứu hoá sinh đã được áp dụng trong lĩnh vực khoa học.

Gần đây, năm 1997 giải thưởng Nobel y học trao cho Staley Prusiner về công trình nghiên cứu prion, một khái niệm mới về “nhiễm khuẩn”, gây bệnh não thể xốp ở người và động vật. Prion là protein tồn tại hai dạng đồng phân alpha và bêta. Ở cơ thể khoẻ mạnh thì PrP có dạng alpha còn khi cơ thể bị bệnh thì dạng alpha bị duỗi ra và xếp thành các băng song song gọi là PrP bêta. Dạng này rất bền với enzyme tiêu hoá và không bị phá huỷ ở nhiệt độ cao.

Do vậy prion như là tác nhân gây bệnh hoàn toàn mới được bổ sung vào danh sách những tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, nấm. Công trình này đưa ra khái niệm bệnh lý phân tử hoàn toàn mới trong sinh học và y học. Công trình không chỉ phát hiện ra tác nhân gây bệnh xốp não mà còn đặt nền móng cho sự tìm hiểu cơ chế mất trí liên quan đến bệnh già và bệnh Alzheimer, cũng như đặt nguyên tắc chặt chẽ cho việc ghép các cơ quan phủ tạng của động vật cho con người và thuốc men chế từ động vật dùng cho người.

Nguồn: yduocbinhduong.info