Tác dụng của vàng đắng

Vàng đắng là cây dây leo được sử dụng làm nguyên liệu chiết berberin, ngoài ra vàng đắng còn có tác dụng điều trị bệnh sốt rét, chữa lỵ, ỉa chảy, đau mắt.

Cây chè vằng đắng

Tên gọi

Tên khoa học:  Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr. (= C. usitatum Pierre.), họ Tiết dê – Menispermaceae. Tên khoa học: cây mỏ vàng, hoàng đằng lá trắng, loong tơ rơn (tiếng Bana), dây đằng giang, hoàng dằng lá trắng, dây khai, vàng đắng…

Vàng đắng là loại dây leo to có phân nhánh leo lên những cây gỗ, cao. Thân hình trụ đường kính 1,5-10cm. Thân to màu vàng, thân già màu ngà xả xỉ có đoạn có chỗ u phình to tròn và mắt (vết tích gốc lá). Cành non, lá non, cụm hoa và quả đều phủ một lớp lông mềm. Lá đơn, nguyên, mọc so le, có cuống, đáy tròn hoặc lõm hình tim, đầu lá thuôn nhọn, gân lá hình chân vịt, mặt trên lá màu xanh lục, mặt dưới có lông bạc trắng. Hoa màu trắng phớt tím, mọc thành chùm chuỳ ở thân đã rụng lá, cuống hoa rất ngắn. Hoa đơn tính, hoa đực có 6 nhị, 3 nhị ngoài rời, 3 nhị trong có chỉ nhị hàn liền. Hoa cái có 3 noãn.  Quả hạch hình cầu. Mùa hoa và quả vào tháng 1 đến tháng 5.

Nước chè vằng đắng mang đến tác dụng rất tốt cho sức khỏe

Nước chè vằng đắng mang đến tác dụng rất tốt cho sức khỏe

Phân bố và thu hái chế biến                              

Cây mọc hoang ở miền đồng bằng Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên còn có ở Lào và Campuchia. Trên thế giới thì có ở Ấn Độ, Malaixia…

Thu hái gần như quanh năm, dùng thân, rễ, dược liệu được hái về thái mỏng, sau đó phơi sấy khô.

Thân và rễ (Caulis et Radix Coscinii).

Đoạn thân hình trụ, đường kính 1,5-6cm, dài ngắn khác nhau, mặt ngoài màu vàng có vết bạc loang lổ, có đoạn có bướu phình to tròn có vết lõm cũng tròn do vết tích của cành non và cuống lá, có vết khía và nứt dọc nhỏ đôi chỗ bong mất lớp bần.

Rễ hình trụ, màu vàng thẫm, không có bướu.

Mặt cắt ngang có lớp vỏ mỏng màu nâu nhạt, phần gỗ màu vàng có tia tuỷ hình nan hoa bánh xe, lỗ chỗ có nhiều chấm nhỏ (mạch lỗ). Không mùi, vị đắng. Trong thân và rễ vàng đắng có berberin (1,5-3%) ngoài ra còn có ít palmatin, fatrorizin, dẫn suất của izoquinolein. Nhân dân dùng thân và rễ cây làm thuốc hạ nhiệt, chữa sốt rét, chữa lỵ, ỉa chảy, đau mắt dùng dạng thuốc bột hay thuốc viên ngày uống 4-6g. Hoặc dạng chế phẩm berberin chlorid viên nén 0,05g ngày dùng 6-10 viên.

Dùng làm nguyên liệu để chiết berberin. Berberinclohydrat dạng muối dùng chữa lỵ, ỉa chảy, đau mắt ngày uống 0,02-0,2g dưới dạng thuốc viên. Ngoài ra bột berberin còn có tác dụng hỗ trợ phục hồi chức năng tim, hỗ trợ điều trị mỡ máu, bệnh xơ vữa động mạch, chữa bệnh liên quan đến gan mật, vàng da, ăn uống khó tiêu. Theo y học cổ truyền thân và rễ vàng đắng có vị đắng, tính mát, có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, bổ đắng được dùng chữa bệnh gan mật, vàng da, ăn uống không tiêu, hoặc pha thành dung dịch 0,5-1% dùng để nhỏ mắt chữa đau mắt hay để rửa mắt.

Ở một số vùng, nhân dân dùng cây vàng đằng để nhuộm màu vàng. Tại Ấn Độ rễ vàng đắng dùng để điều trị lỵ, rửa mụn nhọt, vết thương. Nước sắc vỏ được dùng chữa sốt, nước sắc thân dùng để điều trị rắn cắn.